Xu hướng tất yếu phát triển nền kinh tế số

Tốc độ, mạng lưới rộng khắp, thực thi hiệu quả và năng lực cạnh tranh cao

Sự thay đổi nhanh chóng với nền tảng công nghệ số

Các quy trình kinh doanh được số hóa kết hợp bởi nhiều công nghệ mới và dữ liệu lớn

Internet vạn vật đã thay đổi cách thức nền kinh tế vận hành

Quy trình tự động hóa với công nghệ phân tích dữ liệu tức thời hiện diện khắp mọi nơi

Hợp tác đa phương, đa lĩnh vực hội tụ trong không gian mạng

Khả năng vận hành nền kinh tế cũng như doanh nghiệp trở nên linh hoạt với độ chính xác cao

Quản trị thông minh trong nền kinh tế số là yếu tố sống còn

Các kỹ năng số mới đối với thế hệ lãnh đạo tương lai của nền kinh tế cần được trang bị ngay từ bây giờ

Sunday, February 19, 2023

Khái niệm về Kinh tế số

     Khái niệm về Kinh tế số:

Theo nhóm cộng tác kinh tế số Oxford, Kinh tế số là  được hiểu đó là một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet. Kinh tế số bao gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, logistic, tài chính ngân hàng, …) mà công nghệ số được áp dụng.


R.Bukht và R. Heeks đã đưa ra khái niệm tổng quan nhất về kinh tế số bằng cách đề ra hệ thống “Khung khái niệm về Kinh tế số”. Khung khái niệm này nêu rõ phạm vi của Kinh tế số lõi thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin truyền thông (Core Digital Economy), Phạm vi hẹp là Kinh tế số (Digital Economy) và phạm vi rộng Kinh tế số hoá (Digitalised Economy). Trong đó (1) Kinh tế số lõi bao gồm chế tạo phần cứng, dịch vụ thông tin, phần mềm và tư vấn công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT); (2) Kinh tế số bổ sung dịch vụ số (Digital services) và kinh tế nền tảng (Platform Economy) vào kinh tế số lõi. Hơn nữa, kinh tế số phạm vi hẹp còn bao gồm một bộ phận của kinh tế chia sẻ (Sharing Economy), kinh tế gắn kết lỏng (Gig Economy); (3) Kinh tế số hóa bổ sung kinh doanh điện tử, thương mại điện tử, công nghiệp 4.0 (Industry 4.0), nông nghiệp chính xác (Precision agriculture), kinh tế thuật toán (Algorithmic Economy), phần còn lại của kinh tế chia sẻ, kinh tế gắn kết lỏng vào kinh tế số.




Hình vẽ 1: Khái niệm kinh tế số theo phạm vi [1]


Một cách tổng quát, Kinh tế số là nền kinh tế sử dụng kiến thức, thông tin được số hóa để hướng dẫn, nâng cao phân bổ nguồn lực, năng suất, mang lại tăng trưởng kinh tế chất lượng cao. Một nền kinh tế trong đó bao gồm các mô hình kinh doanh và quản lý tạo ra sản phẩm, dịch vụ số hoặc hỗ trợ cung cấp dịch vụ số cho chính phủ, doanh nghiệp và người dân. Phát triển kinh tế số là sự hội tụ của nhiều công nghệ mới, như: dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật - IOT, blockchain - Chuỗi khối, Trí tuệ nhân tạo AI, mạng không dây 5G. Công nghệ mới cho phép con người xử lý khối lượng công việc lớn, đưa ra quyết định thông minh hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với phân tích dữ liệu lớn tạo ra cấp độ mới trong phát triển kinh tế số.


Về bản chất, đây là các mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nền kinh tế dựa trên ứng dụng công nghệ số. Có thể thấy những ứng dụng của kinh tế số hàng ngày bao gồm: thương mại điện tử xuyên biên giới, bán lẻ trực tuyến, đồng tiền số chung, nền tảng công nghiệp số, học trực tuyến, khám bệnh trực tuyến, làm việc từ xa, vận chuyển, giao nhận, quảng cáo trực tuyến… cũng được tích hợp công nghệ số để đáp ứng nhu cầu thuận tiện cho con người.


Trong đó, có thể thấy tính kết nối giữa các chủ thể và chu trình kinh tế nhờ vào các thành tựu của công nghệ thông tin và Internet giúp kết nối hóa các nguồn lực, lược bỏ nhiều khâu trung gian và tăng cơ hội tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu. Có thể dựa trên khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực.



[1] Rumana Bukht and Richard Heeks (2017). Defining, Conceptualising and Measuring the Digital Economy. Paper No. 68, Centre for Development Informatics, Global Development Institute, SEED

Thông tin về Trường Đại học Thủy lợi

Trường Đại học Thuỷ lợi được thành lập năm 1959, Nhà trường đã có bề dày thành tích trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất góp phần cho sự nghiệp phát triển bền vững của Đất nước. Quá trình phát triển của nhà trường như sau:

Thời kỳ 1959-1975:

Tháng 01 năm 1959, Bộ Thủy lợi trình Chính phủ xây dựng Học viện Thủy lợi. Tháng 7 năm 1959 Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng chính thức thông qua quy hoạch xây dựng Học viện Thủy lợi, cùng năm đó Chính phủ ra quyết định thành lập Học viện Thủy lợi, tiền thân của Trường Đại học Thủy lợi ngày nay với ba nhiệm vụ: Đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên và nghiên cứu khoa học. Khi được thành lập đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường có 25 người vừa mới tốt nghiệp đại học. Với sự giúp đỡ của một số chuyên gia của Học viện Thủy lợi điện lực Vũ Hán (Trung Quốc), chương trình và kế hoạch được xây dựng dựa trên kinh nghiệm của Liên Xô và Trung Quốc với số lượng chỉ tiêu tuyển sinh khoảng 100 sinh viên và tăng lên 400 sinh viên chính quy và hơn 100 sinh viên tại chức, chuyên tu mỗi khóa vào năm 1974. Ngành nghề được tiếp tục phát triển, số ngành của Nhà trường là 6 ngành: Thủy công, Thủy nông, Thủy văn, Thủy điện, Cơ khí thủy lợi và Thi công.

Thời kỳ 1975-1985:

Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất thời kỳ này phát triển mạnh mẽ. Các nhà khoa học của trường đã hoàn thành nhiều đề tài cấp Nhà nước, những chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia. Nhà trường chú trọng đến hợp tác quốc tế với các trường trên Thế giới ở Liên xô, các nước Đông Âu, Lào, Ấn Độ, Hà Lan..., phát triển đội ngũ giảng viên, số giảng viên có trình độ tiến sĩ 50 người, có 1 giáo sư và 25 phó giáo sư. Song song với phát triển đào tạo đại học, quy mô đào tạo sau đại học được mở rộng. Năm 1979 trường được công nhận chính thức là cơ sở đào tạo sau đại học, đánh giá một bước chuyển biến về chất của Nhà trường.



Thời kỳ 1986 – 2004:

Đây là thời kỳ Trường Đại học Thủy lợi vững bước đi lên trong đổi mới và hội nhập quốc tế, phát triển toàn diện và thành công to lớn. Với tinh thần chủ động sáng tạo và quyết tâm cao của toàn thể cán bộ, công nhân viên Trường Đại học Thủy lợi đã từng hoàn thành những mục tiêu đặt ra thể hiện những kết quả nổi bật. Đến năm 2004, Nhà trường xây dựng được một hệ thống ngành nghề hoàn chỉnh gồm 9 ngành đào tạo đại học với 20 chuyên ngành phủ kín các lĩnh vực của Kỹ thuật Tài nguyên nước. Nhiều ngành mới như Kỹ thuật hạ tầng, Cấp thoát nước, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật bờ biển được chiêu sinh và đào tạo. Khung chương trình đào tạo đại học được rút ngắn xuống còn 270 đơn vị học trình, đề cương chi tiết môn học đã được xây dựng và phê duyệt. Chương trình đào tạo mới được Bộ Giáo dục và đào tạo thông qua và bắt đầu thực hiện từ năm học 2004-2005.

Song song với việc phát triển công tác đào tạo nhà trường cũng đã dành được nhiều thành tựu to lớn trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, phục vụ sản suất và hợp tác Quốc tế.

Thời kỳ 2005 đến nay:

Trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào kinh tế thế giới, từ giữa năm 2005, Trường Đại học Thủy lợi đã bắt đầu nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển giai đoạn 2006-2020 và tầm nhìn 2030 với tinh thần đổi mới triệt để để hội nhập và phát triển. Chiến lược phát triển Trường Đại học Thủy lợi giai đoạn 2006-2020 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và bắt đầu thực hiện giữa năm 2006. Toàn bộ tên ngành học và chương trình đào tạo của Nhà trường được đổi mới dựa trên chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tham khảo các chương trình đào tạo của Hoa Kỳ và một số nước tiên tiến trên Thế giới.

Các chương trình đào tạo được xây dựng với 145 tín chỉ, thời gian đào tạo 4,5 năm, nhằm mục tiêu lấy người học làm trung tâm của quá trình đào tạo. Chương trình mới cũng đặc biệt quan tâm đến rèn luyện kỹ năng và năng lực sáng nghiệp cho người học. Toàn bộ giáo trình, tài liệu cũng được đổi mới cho phù hợp với nội dung chương trình đào tạo mới. Đến nay Trường đã nhập khẩu hơn 1.000 đầu sách giáo trình và tài liệu tham khảo tiếng Anh (chủ yếu từ Mỹ), biên dịch và sử dụng làm giáo trình cho các chương trình đào tạo chính thức của Trường. Hầu hết các khâu trong quy trình quản lý đào tạo đã được tin học hóa trên nền mạng Internet, giúp tạo sự thống nhất và tiện lợi cho việc học tập của sinh viên và việc quản lý đào tạo của các bộ phận nghiệp vụ ở mọi cơ sở đào tạo của Trường.

Ngoài các ngành đào tạo truyền thống có thế mạnh của nhà trường, đến năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định giao nhiệm vụ cho trường đào tạo Chương trình tiên tiến ngành Kỹ thuật tài nguyên nước giảng dạy bằng tiếng Anh, hợp tác với Đại học Bang Colorado (Hoa Kỳ). 

Từ 2014, Nhà trường đã triển khai đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN). Nhà trường đã chuẩn bị triển khai đánh giá kiểm định hầu hết các chương trình đào tạo hiện có. Trường đã đăng ký và được chấp thuận làm quan sát viên của mạng lưới AUN.



Trên cơ sở định hướng phát triển nguồn nhân lực của đất nước kết hợp cơ sở vật chất khang trang hiện đại và với đội ngũ giảng viên có nhiều kinh nghiệm chuyên sâu và hầu hết được đào tạo từ các nước tiên tiến như Hà Lan, Pháp, Đức, Nhật bản, Ý, Singapore, ...  Nhà trường đã đào tạo gần 40.000 kỹ sư, 1.300 cử nhân cao đẳng, 5.000 thạc sĩ và 150 tiến sĩ ở các lĩnh vực khác nhau. Quy mô đào tạo của Nhà trường với hơn 15.000 sinh viên đại học, 1.200 học viên cao học và gần 100 nghiên cứu sinh đang theo học tại trường. Ngoài ra, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Trường Đại học Thủy lợi đã chủ động mở rộng ngành nghề và quy mô đào tạo trên cơ sở đảm bảo chất lượng và xu thế hội nhập Quốc tế. Quy mô tuyển sinh chính quy hàng năm với 5.000 - 6.000 sinh viên đại học, 500 - 600 học viên cao học và 10 - 20 nghiên cứu sinh. Trong phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh cho từng ngành, Nhà trường rất chú trọng đến nhu cầu sử dụng người lao động, đặc điểm kinh tế xã hội nên 90% sinh viên sau khi tốt ghiệp đều có việc làm ổn định.

Sứ mệnh: Trường Đại học Thuỷ lợi là trường đại học công lập có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ tiên tiến trong các ngành khoa học, kỹ thuật, kinh tế và quản lý, đặc biệt trong lĩnh vực thuỷ lợi, môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững Tổ quốc Việt Nam.

Tầm nhìn: Trường Đại học Thuỷ lợi là trường đại học số 1 trong lĩnh vực thuỷ lợi, thuỷ điện, tài nguyên, môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; phấn đấu là một trong các trường đại học đa ngành hàng đầu của Việt Nam, có năng lực hội nhập cao với hệ thống giáo dục đại học khu vực và quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, trong xu thế chuyển đổi số của toàn cầu, có thể thấy việc mở ngành đào tạo Kinh tế số nhắm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực kinh tế trong quá trình chuyển đổi số thời gian tới là hoàn toàn phù hợp với sứ mệnh, tầm nhìn và chiến lược phát triển của trường hướng đến đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với xu thế chung phát triển trong nước và quốc tế.


Xu hướng phát triển của Kinh tế số

Câu hỏi: Ngành kinh tế số được hiểu như thế nào? Xu hướng ngành kinh tế số ở Việt Nam và thế giới như thế nào? Ra trường có dễ xin việc không?

Trả lời:

Hiểu về ngành kinh tế số một cách đơn giản (theo nhóm cộng tác kinh tế số Oxford): Kinh tế số là  được hiểu đó là một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet. Kinh tế số bao gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, logistic, tài chính ngân hàng, …) mà công nghệ số được áp dụng.

Xu hướng phát triển ngành kinh tế số:

Phát triển kinh tế số được nhiều quốc gia xem như là một xu thế tất yếu của cuộc CMCN 4.0. Phát triển kinh tế số được xác định là một nội dung quan trọng của Chương trình chuyển đổi số quốc gia. Thủ tướng đã có Quyết định số 749/2020/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, theo đó, Việt Nam thuộc nhóm ít các nước trên thế giới sớm ban hành chiến lược chuyển đổi số quốc gia, chiến lược về một quốc gia số.

Chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, trở thành nền tảng và động lực cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Có thể nói, nền kinh tế tương lai là nền kinh tế số.  

Nhu cầu việc làm của ngành Kinh tế số:

Tại hội thảo “Kết nối trí thức trẻ phát triển nguồn nhân lực số, nền kinh tế số quốc gia” do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tháng 11/2021)[1]  các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách cho biết Việt Nam đang thiếu hụt một lực lượng nhân lực lớn để phát triển nền kinh tế số, chỉ tính riêng năm 2022 Việt Nam thiếu hụt 150 ngàn người. Phát triển nguồn nhân lực được xác định là chìa khóa để chuyển đổi số thành công và phát triển nền kinh tế quốc gia[2].

Theo Báo cáo Tiềm năng kinh tế số của Việt Nam do Google công bố mới đây, xu hướng CMCN lần thứ 4 thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia quá trình chuyển đổi số, điều đó có thể làm mất 1/3 lượng việc làm hiện có, đồng thời có thể tạo ra việc làm mới với những kỹ năng mới [3]. Vì vậy nguồn nhân lực am hiểu về kinh tế số vừa là động lực để phát triển kinh tế quốc gia vừa là điều kiện cần để các bạn sinh viên tốt nghiệp ra trường có khả năng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh và các tổ chức phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế hiện đại.

Vì vậy có thể thấy tiềm năng về vị trí việc làm của sinh viên ngành Kinh tế số sau khi ra trường là rất cao và phù hợp với xu hướng phát triển của quốc gia.




[1] Tham khảo bài viết "Phát triển kinh tế số: Cần vượt qua thách thức nguồn nhân lực", tại địa chỉ https://congthuong.vn/phat-trien-kinh-te-so-can-vuot-qua-thach-thuc-nguon-nhan-luc-168037.html  

[2] Tham khảo bài “Phát triển nguồn nhân lực: Chìa khóa để chuyển đổi số thành công”, tại địa chỉ https://www.mic.gov.vn/mic_2020/Pages/TinTuc/150402/Phat-trien-nguon-nhan-luc--Chia-khoa-de-chuyen-doi-so-thanh-cong.html

[3] Tham khảo bài viết "Nâng chất lượng nhân lực khai thác tiềm năng kinh tế số" tại địa chỉ https://baodauthau.vn/nang-chat-luong-nhan-luc-khai-thac-tiem-nang-kinh-te-so-post116098.html 

Friday, February 3, 2023

Welcome to Kinh tế số TLU

 Welcome!